ĐÙA CHĂNG?
HAY SINH KHÍ TRONG VĂN CHƯƠNG...
Bắn nhầm “Đàn bà có lông”
Một hôm, Thịnh "con" ở tiểu đoàn một đã liều mò tới đấy và giữa tro tàn của ngôi làng cậu ta đã bắn chết một con vượn rất to, phải bốn người kéo ra mới khiêng nổi con thú về chỗ lán của đội trinh sát. Nhưng, lạy Chúa tôi, đến khi ngả nó ra, cạo sạch được bộ lông thì ôi giời đất ôi, con vật hiện nguyên hình một mụ đàn bà béo xệ, da sùi lở nửa xám nửa trắng hếu, cặp mắt trợn ngược. Cả lũ bọn Kiên thất kinh, rú lên, ù té quẳng tiệt nồi niêu dao thớt. Ở trung đoàn chẳng ai người ta tin chuyện đó, nhưng chuyện đó là có thật. Bọn Kiên đã chôn cất, đắp điếm tử tế mồ mả cho “người ấy”, nhưng sự báo oán vẫn chẳng tránh được. Một thời gian sau, Thịnh “con” bị giết. Và lần lượt, kế tiếp nhau hầu hết trung đội đã bỏ mình. Còn sót lại có mình Kiên, như vậy đấy…
(NBCT/Bảo Ninh- Trích từ fb Trung Can Phan)

Bình luận người thứ bảy
Đoạn văn trích trên chúng tôi xin vén màn những bí mật ẩn dưới lớp vỏ ngôn từ rối rắm, mơ hồ, hư hư thực thực của nó sau hơn 30 năm tồn nghi từ khi nó ra đời, năm Đinh Mão 1987, rồi được nhà nước cấp giấy phép xuất bản vào năm Canh Ngọ 1990, liền đó đã gây ra nhiều tranh cãi, bất mãn. Tiếp theo là bị đình bản. Rất lạ là cũng vừa mới rặt ròng khi nó được nhà nước đề cử-vinh danh là một trong 14/50 tác phẩm sáng giá của văn học Việt Nam cùng nhiều hạng mục khác của văn hóa từ sau 75 đến nay thì liền có trùng trùng điệp điệp làn sóng lớp chồng lớp dồn dập khởi lên phản ứng, chống đối, thậm chí nguyền rủa, chửi mắng, tấn công không khoan nhượng của biển người trên mạng xã hội đối với nó và tác giả ngõ hầu cung cấp cho người đọc tại sao lại có những dị thường, khác lạ như thế. Trong khi nó chỉ là một tập truyện văn học thuần túy mang hơi hướm chiến tranh lồng trong bối cảnh pha nhiều sắc thái hư cấu, tưởng tượng.
1-"... Bắn chết một con vượn rất to...", vượn cũng là khỉ, bởi cùng giống loài, khỉ gọi là thân, thân 申 là chi thứ 9 trong 12 địa chi tý, sửu, dần, mẹo, thìn...
2-"Một hôm, Thịnh "con" ở tiểu đoàn một đã liều mò tới đấy và giữa tro tàn của ngôi làng cậu ta đã bắn chết một con vượn rất to, phải bốn người kéo ra mới khiêng nổi con thú về chỗ lán của đội trinh sát..." chỉ là một cách chơi chữ, dùng để viết ra chữ dậu 酉, chi thứ 10 trong 12 địa chi, vốn là một thiết tự 設字 Chuyển cú 轉句. Xin giải thích cụ thể, chi tiết chiêu thế, nghệ thuật chơi chữ độc đáo ấy như sau. "Một" của "con vượn rất to là chữ nhất 一 một nét ngang. "Ngôi làng" thì phải có nhà, có người ở, vị trí của nó ở đâu cũng chẳng cần biết làm gì, chỉ cần biết về phương hướng thì tất nhiên nó tiếp cận với bốn hướng đông tây nam bắc, thực chất sáu chữ "giữa tro tàn của ngôi làng" là thiết tự 設字 Dụng hình 用形 (sử dụng hình ảnh các vật hoặc chữ nghĩa để viết ra câu văn, câu thơ để người đọc nhìn vào đó đoán ý chủ thể muốn nói, nhắn gởi gì trong đó. Chớ không phải Tượng hình 象形 như ghi chép và học hiểu sai lệch từ gốc nguồn của bộ môn Hán ngữ Trung Hoa. Việt Nam cũng thừa hưởng theo đó, gốc nói đúng thì mình đúng theo, gốc nói sai thì mình cũng sai theo. Việc này chúng tôi nói khá nhiều trên những bài viết trước đây) dùng viết ra chữ vi 囗 hình vuông bốn cạnh, đúng ra là một vòng tròn chữ O, chữ viết cổ, nhìn bên trong trống trơn, trụi lủi. Cho nên tác mới nói "giữa tro tàn của ngôi làng...". Cụm từ "Con vật hiện nguyên hình một mụ đàn bà béo xệ, da sùi lở nửa xám nửa trắng hếu..." chỉ là những dàn bày hư ngữ um tùm cỏ nội hoa ngàn đánh lừa người đọc mà khi đọc qua sẽ cảm thấy khó chịu, bực tức, nhiều khi cơn giận sùng sục trào sôi bởi hình ảnh gớm ghiếc của mớ chữ nghĩa hệt những nét phác họa tài tình của một họa sĩ tài danh đã liền hiện ra trong trí tưởng tượng của người đã mất tự chủ, được sử dụng để viết ra chữ ngột 兀 còn lại trong chữ dậu 酉 đó thôi. Cảm xúc đó của người đọc cũng chính là sự thành công của cách sử dụng chữ nghĩa, ngôn ngữ miêu tả-dựng chuyện cực kỳ lạ khéo, độc đáo, tài tình của tác giả vậy. Ngột 軏 trước hết, cũng đọc là nguyệt 月. Nguyệt 月/O là mặt trăng (Hằng Nga), là phần âm, khí âm, chữ đối với dương 阳 là mặt trời-chữ nhật 日, âm 阴 chỉ chung cho các vật nặng, nghiêng về âm tính, như lạnh, rét, ngọt, màu đen, bóng tối, giống cái, đàn bà, sự nhu nhược, tính thụ động, vvv... Tóm lại. Câu văn "Con vật hiện nguyên hình một mụ đàn bà béo xệ, da sùi lở nửa xám nửa trắng hếu..." như đã nói chỉ là dạng hỏa mù chữ nghĩa để tạo ra một đám rối đánh lừa, xỏ mũi người đọc dùng để viết ra chữ ngột 軏/兀. Từ chữ ngột 軏/兀, lấy ra được chữ nguyệt 月.

Như thế, chữ dậu 酉 đã được hình thành ở ngang đây: câu văn nhập đề: "Một hôm Thịnh "con" ở tiểu đoàn một đã liều mò tới đấy và giữa tro tàn của ngôi làng cậu ta đã bắn chết một con vượn rất to-con vật hiện nguyên hình một mụ đàn bà béo xệ" dùng để bổ túc nghĩa cho chữ ngột 兀, tức nguyệt 月, cũng để hình thành, viết ra chữ dậu 酉. Trước đó là chữ vi 囗-ngôi làng, và chữ nhất 一-một. Nguyệt 囝 có chữ cũng đọc là niên. Niên 年 là năm-tuổi.
Câu văn vừa giải thích là một thiết tự 設字 kép vừa Chuyển cú 轉句 vừa Dụng hình 用形 để viết, lấy ra chữ Dậu 酉: vi 囗-nhất 一-ngột 兀.
Cũng nên lưu ý cho chỗ hết sức quan trọng của nghệ thuật chơi chữ, cách sử dụng câu chữ, ngôn ngữ vừa điêu luyện vừa thận trọng của tác giả. Dấu phẩy chỗ chữ "to", "một con vượn rất to," là nghĩa giải thích của chữ đậu. Đậu 读 tiếng Hán là dấu ngắt giọng ở giữa câu sách, nó tương đương với dấu phẩy, dấu chấm chữ quốc ngữ latinh abc. Đậu 豆 tiếng Nôm (chuyển cú 轉句-chuyển chữ) đọc là dấu. Dấu 酉 là đánh dấu, dấu câu, dấu cũng đọc là dậu. Dậu 酉 là giờ dậu, tháng dậu, năm dậu. Theo đó, ngay chổ dấu phẩy của chữ "to," sự việc, tức chữ nghĩa đã được chuyển sang cách hiểu khác. Cách hiểu khác là chỗ này đây. Chữ "và" của "và giữa tro tàn của ngôi làng" sẽ dẫn người đọc qua một cách hiểu khác của những dạng thiết tự 設字, ngôn ngữ khác. Chờ đọc đoạn sau vậy.

Một vài đính chính về chữ viết Trung Hoa
Trong hệ thống ngôn ngữ Hán Nôm của người Trung Hoa và người Việt nhiều khi để viết, lấy ra chữ, từ mang nghĩa giải thích cần thiết cho sự việc, câu chuyện nào đó, thì cần phải đi qua dạng thiết tự 設字 gọi là Giả tá 假借-vay mượn. Giả tá 假借 là những chữ không có thật, chỉ mượn thanh/tiếng của từ này để diễn tả từ khác, có ý nghĩa khác. Ngày nay ta có thể hiểu là từ đồng âm khác nghĩa (đọc giống nhau nhưng có nghĩa khác). Đó là nói theo định nghĩa của Lục thư 六书 Trung Hoa, khá lòng vòng, khó hiểu, người tay ngang lần đầu mới vô đọc dạng văn bản này thì sẽ bế tắc, không đường tiến thoái trước những giải thích mơ hồ, nhập nhằng của những cách viết lấy từ trang mạng. Do đó chúng tôi cần phải định nghĩa lại theo cách hiểu vắn tắt, đơn giản của mình về Lục thư 六书 Trung Hoa để cho mọi người khi vô đọc là phải hiểu ngay ra sự việc. Không thể ở trong tình trạng mù mờ, ngắc ngứ trước những con chữ, câu văn lấy từ trang mạng, cả những định nghĩa trong các sách Hán Nôm, hoặc các sách tự điển chữ Hán do người Việt biên soạn xưa nay. Theo chúng tôi, nói nhanh gọn cho dễ hiểu dễ nhớ, Giả tá 假借 là thao tác vay mượn chữ (này) để lấy ra những chữ khác cách viết, cách đọc (có khi là chữ đồng âm) hầu cung cấp nghĩa và ý chính cho câu chuyện, sự việc, cho văn bản của chủ thể. Có thể hiểu thiết tự 設字 Giả tá 假借 đơn giản như sau. Để xây lên một căn nhà có giá 300 triệu, trong khi trong tay chỉ có vài mươi triệu, chủ thể phải chạy đi mượn, đi vay. Một người không đủ, thì người thứ hai, rồi thứ ba, thứ tư, thứ năm. Phải mượn hoặc vay đến năm người thì mới ra số tiền cần phải có, cũng như phải cầm được nó trong tay cái đã, sau đó mới tính đến chuyện xây nhà. Có khi chỉ ba người là đủ. Giả tá 假借, tức vay mượn có ý là như thế. Giả tá 假借 còn có cách hiểu khác, như sau. Từ Việt Nam muốn bay qua Mỹ thì hãng Vietjet không có chuyến bay trực tiếp, do đó Vietjet phải quá cảnh sân bay Singapore. Rồi từ sân bay Singapore nạp thêm nhiên liệu và lấy thêm những thứ cần thiết rồi mới bay tiếp qua Mỹ.

Cũng nên đọc thêm phần bổ túc ý nghĩa của thiết tự 設字 chữ Hán. Hán ngữ Trung Hoa được xây dựng, thiết lập trên nền tảng gồm có 6 hạng mục, gọi là Lục thư 六书, như sau:
1-Hội ý 會意:
Chữ Hội ý 會意 là trong một chữ/tự thì có nhiều thành phần, tức nhiều chữ ghép lại. Mỗi thành phần/tự mang một nghĩa khác nhau. Hợp các nghĩa của từng thành phần/chữ để tạo, lấy ra nghĩa tổng hợp hoặc chính thức của/cho một chữ mới. Ví dụ, chữ mộc 木 (gom, chiết từ 4 nét) đứng đơn lẻ đơn côi chỉ có nghĩa là cây, nhưng khi viết, đúng ra là thiết tự 設字, hai chữ mộc 木木 đứng gần nhau, bấy giờ không còn gọi là mộc 木, mà là lâm 林, lâm 林 là rừng. Chữ Hội ý 會意 có nghĩa như thế.
2-Chuyển cú 轉句:
Chuyển cú 轉句 là thao tác, nghệ thuật chuyển, biến một câu văn thành một chữ, một tự/từ hoặc thao tác chuyển một chữ, tự/từ thành một câu văn, đoạn văn. Cú 句 cũng đọc, viết là câu 句, cấu 勾. Chớ đó không phải là thiết tự 設字 Chuyển chú 轉注 như ghi chép, học hiểu sai lạc của bộ môn Hán ngữ Trung Hoa và người Việt. Một sai biệt ngàn trùng của hai dân tộc Trung Hoa và Việt Nam khi cho Chuyển chú 轉注 là cách dùng một chữ có sẵn để đặt ra chữ khác có nghĩa cũng tương tự. Gọi là chữ gần nghĩa. Định nghĩa như thế thì có trời cũng không hiểu nổi. Thế mà trong Lục thư 六书 Trung Hoa qua mấy ngàn năm, tính từ thời nhà Ân Thương 1766-1122 TCN, đến nay, năm 2025, trải qua 3790 năm: 1766+2025-1=3790, là thời kỳ xuất hiện loại chữ viết được khắc trên mai rùa và xương thú, gọi là Giáp cốt văn 甲骨文, cũng vẫn ghi hai chữ lầm lạc, vô nghĩa ấy. Chúng tôi xin chỉnh hai chữ vô nghĩa, lạc loài ấy lại là Chuyển cú 轉句. Chuyển cú 轉句 có nghĩa như sau, xin cho ví dụ, như chữ Hoàng (gồm chữ thảo 艹, nhất 一, điền 田, bát 八 (họ của Bắc cung Hoàng hậu Thúy Kiều Hoàng Thị Thu Mai. Chớ Bà không phải là họ Lê-Công chúa Lê Ngọc Hân, đúng ra là Ngân, con của vua Lê Hiển Tông như ghi chép sai lạc, nhầm lẫn của các dạng sách vở, tài liệu lịch sử các thời kỳ) nhập lại, gọi tắt gọn là thảo 艹 nhất 一 điền 田 bát 八. Đã được Nguyễn Du Kim Trọng thi hóa, viết ra câu thơ đầy ý vị, trữ tình, dẫn người đọc đi vào cõi giới mơ hồ, trừu tưởng, bãng lãng khói sương nào đó mà bỏ quên phút giây hiện hữu là "Cát vàng cồn nọ bụi hồng dặm kia (cát/điền 田, cồn/bát 八, bụi hồng/thảo 艹, dặm/nhất 一)". Những hình thức, thao tác như thế gọi là Chuyển cú 轉句, tức nghệ thuật và phương pháp chuyển từ chữ ra câu văn, câu thơ, có khi chuyển câu văn, đoạn văn ra một chữ hay vài chữ. Chớ thao tác, sáng tạo, phát minh đó không phải là Chuyển chú 轉注 như ghi chép, học hiểu lầm lạc của bộ môn Hán ngữ Trung Hoa và Việt Nam. Trong truyện Kiều có vô vàn những câu chữ được Nguyễn Du sử dụng những thao tác, sáng tạo ấy để ký gửi, cài nén các bí mật lịch sử mà chúng tôi hay gọi là những mật mã.

Cát vàng cồn nọ bụi hồng dặm kia...
3-Giả tá 假借:
Nói thêm về thiết tự 設字 Giả tá 假借. Giả tá 假借 là điều kiện, là nghệ thuật vay mượn chữ, mượn chữ này để lấy ra chữ khác cần thiết, có khi rất nhiều chữ, để bổ nghĩa cho văn bản, điều muốn nói của chủ thể sự việc, câu chuyện. Có thể nói Giả tá 假借 là một loại thiết tự, chữ nghĩa cơ bản mà những thiết tự 設字 còn lại trong Lục thư 六书 phải đi qua, phải vay mượn những khi hữu sự. Không có nó, không mượn nó thì sẽ không làm được gì hết.
4-Tình thanh 情聲:
Tình thanh 情聲 là dạng chữ/thiết tự 設字 khá tạp phức bao gồm tình và ý gởi, kèm theo trong tiếng, trong chữ viết. Nói khác đi, bất cứ chữ, từ nào sử dụng cũng phải kèm theo ý và tình của chủ thể trong đó. Có khi biểu thị bằng sự ngạc nhiên, có khi bằng niềm vui, hay bằng nỗi buồn, sự tức giận, nỗi nhớ nhung, hoài niệm, vvv... Chớ đó không phải là Hình thanh 形聲 hay Tượng thanh 象聲 như ghi chép nhập nhằng, sai lệch, học hiểu mù mờ của bộ môn Hán ngữ Trung Hoa, kéo theo cái sai của Việt Nam. Thiết tự 設字 Tình thanh 情聲 có 8 loại phân ra như sau:
1-Nghĩa bên trái, thanh (chữ, tự) bên phải:
江 Giang/sông (thường dùng ở miền Hoa Nam). Gồm chữ 水 Thủy+工 Công.
河 Hà/sông (thường dùng ở miền Hoa Bắc). Gồm chữ 水 Thủy+可 Khả.
沐 Mộc/tắm gội. Gồm chữ 水 Thủy+木 Mộc.
銅 Đồng/một loại kim loại (ký hiệu hóa học là: Cu). Gồm chữ 金 Kim/kim loại+同 đồng/cùng nhau.
2-Nghĩa bên phải, thanh bên trái:
鴉 (鸦) Nha/con quạ khoang. Gồm 牙 Nha+鳥 Điểu (鸟).
鳩 (鸠) Cưu/con tu hú. Gồm 九 Cửu (số chín 9)+鳥 Điểu (鸟).
鴿 (鸽) Cáp/chim bồ câu. Gồm 合 Hạp/hợp+鳥 Điểu (鸟).
郡 Quận/một khu đất chia theo địa giới hành chính. Gồm 君 Quân+邑 Ấp.
3-Nghĩa ở trên, thanh ở dưới:
芳 Phương/cỏ thơm. Gồm 草 Thảo (xưa viết là 艸)+方 Phương.
筒 Đồng/ống tre, ống trúc. Gồm 竹 Trúc+同 Đồng.
藻 Tảo/loài rong, tảo, các loài thực vật dưới nước. Gồm 草 Thảo+澡 Táo (tháo/tắm rửa).
4-Nghĩa ở dưới, thanh ở trên:
婆 Bà/phụ nữ lớn tuổi. Gồm 女 Nữ+波 Ba (sóng).
勇 Dũng/mạnh. Gồm 力 Lực+甬 Dũng.
帛 Bạch/lụa dệt bằng tơ trần. Gồm 巾 Cân/khăn+白 Bạch.
5-Nghĩa ở ngoài, thanh ở trong:
固 Cố/vững bền. Gồm 囗 Vi/vây quanh+古 Cổ.
圃 Phố/vườn trồng rau. Gồm 囗 Vi/vây quanh+甫 Phủ.
閣 (阁) Các/gác. Gồm 門 (门) Môn/cửa, nhà+各 Các.
6-Nghĩa ở trong, thanh ở ngoài:
問 (问) Vấn/hỏi. Gồm 門 (门) Môn+口 Khẩu.
齎 (赍) Tê/đem cho. Gồm 貝 (贝) Bối/của quý+薺 Tề.
7-Nghĩa ở giữa, thanh ở hai bên:
辮 (辫) Biện/bện, gióc, đan (vd: Biện tử/đuôi sam). Gồm 糸 (纟) Mịch/sợi tơ ở giữa chỉ nghĩa, hai chữ 辛 Tân ở hai bên là chữ Biện 釆/辨 chỉ thanh.
辯 (辩) Biện/biện luận. Gồm 言 (讠) Ngôn/lời nói ở giữa chỉ nghĩa, hai chữ 辛 Tân ở hai bên là chữ Biện 釆/辨 chỉ thanh.
8-Nghĩa ở hai bên (hoặc ở trên, hoặc ở dưới), thanh ở giữa:
術/术 Thuật/nghề (thuật sỹ), phương pháp, đường đi trong ấp. Gồm 行 Hành/đi, thi hành chỉ nghĩa+朮 Truật chỉ thanh (tr chuyển thành th).
***
Tùy theo ngữ cảnh, tùy theo trường hợp mà sáu hạng mục Lục thư 六书 nói trên sẽ được vận dụng, đưa vào văn bản với nhiều cách viết, cách dựng chuyện để dẫn dắt, để chứng minh cho sự việc của chủ thể. Giáo dục/văn học Việt Nam thì gọi là hệ thống tu từ. Có khi là một câu văn, đoạn văn, có khi là một câu thơ, đoạn thơ, bài thơ. Ai từng đọc những bài giải Kiều của chúng tôi lâu nay chắc không lạ gì cách chơi chữ, sử dụng các dạng thiết tự 設字 Hán Nôm của thi hào Nguyễn Du trong những câu, chữ mà chúng tôi hay nói là những mật mã hoặc những bóng gió, ám chỉ vào những sự thật của câu chuyện, có khi là địa danh hay những sự kiện đã đang xảy ra, cũng có khi là tên tuổi và ngày tháng năm sinh của các nhân vật lịch sử nào đó.
Còn thiết tự 設字 nên hiểu tóm tắt, nhanh gọn là cách sắp đặt, trình bày chữ nghĩa. Chớ đó không phải là chiết tự 折字 như ghi chép của người Trung Hoa và Việt Nam. Một trời ghi chép, học hiểu sai lạc, mù mờ của hai quốc gia, hai dân tộc về ngôn ngữ, chữ viết của mình. Tại sao?
5-Dụng hình 用形:
Sử dụng hình ảnh các vật hoặc chữ, từ nào đó để viết ra câu văn, câu thơ, rồi nhìn vào đó đoán ý chủ thể muốn nói, nhắn gởi gì trong đó.
6-Tỷ sự 比事:
Là những ví dụ, so sánh, đối chiếu hai vật khi để cạnh nhau, như thấp và cao, nóng và lạnh, âm/dương, trên/dưới, ngoài/trong, xuất/nhập, xấu/tốt, vvv... Nói chung tỷ sự 比事 là những so sánh của sự tương phản, đối nghịch của hai sự việc, hai con người khi để, đặt gần, cạnh nhau.
Trang giải thích chữ Hán Nôm kèm theo bên dưới. Chỉ tra từng chữ một, xong ráp lại lấy ra nghĩa tổng hợp. Có những chữ tra bên Hán ngữ (trái), còn những chữ chỉ tra được bên chữ Nôm.
https://hvdic.thivien.net/
***
Chúng ta trở lại với chuyện văn chương.
Ở trên có nói chữ ngột 兀 cũng đọc là nguyệt 月, ngột 兀 cũng có âm đọc là ô. Ô 鳴 đọc là minh. Minh 明 là chữ ghép từ chữ nguyệt 月 và chữ nhật 日 ra chữ minh 明. Mấy chữ "nửa xám nửa trắng" của câu văn: "Con vật hiện nguyên hình một mụ đàn bà béo xệ, da sùi lở nửa xám nửa trắng hếu..." chính là để bổ túc nghĩa cho chữ minh 明: "nửa xám 月/nửa trắng 日. Thêm nữa, ô 弧 (chữ đồng âm, đồng âm là chữ khác cách viết, khác mặt chữ, đọc lên như nhau) còn có âm đọc là hồ. Hồ 胡 là người Hồ (giống rợ Hồ bên Trung Quốc), họ Hồ 胡.
3-"Phải bốn người kéo ra mới khiêng nổi con thú về chỗ lán của đội trinh sát...". "Bốn" của "bốn người..." là con số đơn vị tính, số 4. "Bốn" hay số 4 là nghĩa giải thích của chữ tứ 四. Tứ 剚 (chữ giả tá 假借-vay mượn) ngoài nghĩa cắm dao, đâm dao, cầm dao đâm (cầm dao/cạo sạch được bộ lông), cũng đọc là chí 剚. Chí 剚/志 có nhiều cách viết, mặt chữ khác nhau. Ghép các nghĩa vừa giải thích, chúng ta có ba chữ Hồ Chí Minh 胡志明 và chữ Dậu 酉 lấy ra từ câu văn:
... Một hôm, Thịnh "con" ở tiểu đoàn một đã liều mò tới đấy và giữa tro tàn của ngôi làng (vi 囗) cậu ta đã bắn chết một (nhất 一) con vượn (thân 申/9) rất to, phải bốn (tứ/chí 四/剚) người kéo ra mới khiêng nổi con thú về chỗ lán của đội trinh sát. Nhưng, lạy Chúa tôi, đến khi ngả nó ra, cạo sạch được bộ lông thì ôi giời đất ôi, con vật hiện nguyên hình một mụ đàn bà (ngột 兀/nguyệt 月/O) béo xệ, da sùi lở nửa xám nửa trắng (minh 明 ) hếu, cặp mắt trợn ngược...
chớ không gì cả.
Cụm từ "... Bắn chết một con vượn rất to..." như đã nói được sử dụng để viết ra chữ thân, thân 申 là chi thứ 9 trong 12 địa chi. Chi thứ 9, nói tắt là con số 9, dùng ám chỉ cho tháng 9, là tháng mà Chủ tịch Hồ Chí Minh ra đi. Mấy ngày sau đó là ngày tổ chức lễ quốc tang. Ngày 9 của tháng 9 dương lịch. Nhưng ý định hoặc tài sử dụng câu chữ của tác giả không đơn giản như thế. Qua lịch âm dương kèm theo (ảnh dưới), người đọc còn thấy dưới tháng 9 dương lịch là tháng Bảy âm lịch Nhâm Thân 壬申. Nhâm 壬 và thân 申 đều nằm ở vị trí thứ 9 của hệ can chi. Nhưng nếu cho chữ nhâm 壬-can nhâm, được lấy ra từ con số 9 như đã giải thích thì không khéo lại rất dễ đồng hóa tài nghệ-bút lực của tác giả cũng chưa có gì xuất sắc, nổi trội bởi cách chơi chữ còn quá mập mờ, may rủi. Thường quá. Thực tế thì sở học cũng như nghệ thuật chơi chữ của tác giả đâu chỉ có bấy nhiêu. Chữ nghĩa, ngôn ngữ ấy vừa độc đáo vừa cẩn thận, cụ thể, chi tiết từng chút một. Chẳng phải câu văn: "con vật hiện nguyên hình một mụ đàn bà béo xệ..." không phải là chữ nhâm mang râu đội mũ trá hình hay sao? Nhâm 壬 là có thai, có mang, có chửa, chữ dùng như nhâm 妊 có bộ nữ 女 kèm theo. Người phụ nữ thời kỳ có mang thân hình phốp pháp, to béo lạ thường hơn lúc bình thường. Cái tài, cái hay, cái độc đáo, đặc biệt của nghệ thuật chơi chữ, sử dụng ngôn ngữ biểu đạt, dựng lên các ngữ cảnh, trường hợp của câu chuyện, sự việc mục đích đánh lừa, xỏ mũi người đọc dắt đi đâu thì đi của tác giả NBCT chính là những chỗ đó đó. Chúng tôi cho đó là ngòi bút hý lộng quỷ thần có một không hai của lịch sử văn học Việt Nam và thế giới của tác giả vậy.

Ngày tổ chức lễ quốc tang Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Chữ "thú" của "phải bốn người kéo ra mới khiêng nổi con thú...", trước đó là: "bắn chết một con vượn rất to" có nghĩa như sau. "Thú 兽" là con thú, thú 兽/首 có âm đọc là thủ. Thủ 首 là đầu, chỉ vị trí, là người đứng đầu trong trong một tổ chức, đoàn thể nào đó. Tương đương với nghĩa "con vượn rất to". Mấy hư từ này dùng ám chỉ vị trí của chủ tịch Hồ Chí Minh trong tổ chức chính trị thời đó.
Cụm động từ: "Phải bốn người kéo ra mới khiêng nổi con thú..." ngoài nghĩa giải thích còn dùng để viết ra chữ kỷ. Kỷ 几/幾 tiếng Hán là một tính từ, vừa dùng để hỏi, như ngày mấy, tháng mấy, năm mấy, và bao lâu, bao nhiêu? Vừa để chỉ (trả lời) nếu đó là hỏi về thời gian, về con số, về con người (phải bốn người...). Kỷ 几/幾 (chữ giả tá 假借-vay mượn) có âm đọc là cơ (trả lời về con số). Cơ 奇 là những con số lẻ, như 1, 3, 5, 7, 9. Kỷ 幾 còn được sử dụng-chữ đồng âm, để ám chỉ, bóng gió cho can kỷ 己 thứ 6 trong thập can giáp, ất, bính, đinh.
Với những gì vừa được giải thích, đoạn văn trích trong NBCT ở trên được tác giả Bảo Ninh sử dụng mục đích ám chỉ cho tháng và năm mất của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đó là tháng 9 (thân 申/âm lịch là tháng Bảy Nhâm Thân 壬申-mụ đàn bà béo xệ) năm Kỷ Dậu 己酉 (phải bốn người-kỷ 幾/己-Thịnh "con" ở tiểu đoàn một-nhất 一-đã liều mò tới đấy và giữa tro tàn của ngôi làng-vi 囗-cậu ta đã bắn chết một con vượn tất to-mụ đàn bà-ngột 兀/nguyệt 月) 1969. Đọc qua giải thích cũng chỉ mới có tháng và năm, còn ngày thì chưa thấy. Có gì trắc trở, bất ổn ở đây chăng? Hay đây chỉ là những giải thích nặng phần hoang tưởng do óc tưởng tượng của chúng tôi dựng lên cốt để định hướng dư luận, dắt buộc mọi người phải nghe theo diễn giải mơ hồ, hoang đường của mình?
Chủ tịch Hồ Chí Minh chết ngày nào?
Là người Việt Nam, ai trong chúng ta cũng biết, Chủ tịch Hồ Chí Minh mất ngày 3 tháng 9 năm Kỷ Dậu 己酉 1969. Đây là nói theo thời gian trước, thời điểm đất nước chưa được thống nhất, Bắc Nam chưa gom về một mối. Nên những bí mật của chính sự cần phải tuyệt đối giữ kín. Không được hé răng dù chỉ nửa lời. Người làm chính trị ai cũng biết điều kiện rất rõ ràng, sòng phẳng của nó tuy không cần phải công khai, nói rõ ra: một khi đã bước vào con đường chính trị thì phải chấp nhận luật chơi của nó. Dè dặt, ý tứ, giữ mồm, giữ miệng. Nếu không, mọi việc đều có thể xảy ra. Sau 75, mãi đến 20 năm sau, chính xác là năm Kỷ Tỵ 己巳 1989, tính từ năm Kỷ Dậu 己酉 1969, sự thật đã được công khai, báo đài chính thống nhà nước đồng loạt đưa tin Chủ tịch Hồ Chí Minh mất ngày 2/9. Đứng trước hai con số, hai thông tin của hai thời kỳ trái nghịch như thế, là kẻ ngoại đạo, người đứng ngoài sự kiện, ngoài lĩnh vực chính trị, chỉ là người có óc tò mò, nhiều chuyện, nếu không muốn nói là óc trinh thám, điều tra phá án, chúng ta có quyền đặt ra câu hỏi, liệu đây có phải là ngày mất của Chủ tịch Hồ Chí Minh hay không?

Nếu người đọc chấp nhận những gì vừa giải thích là rất đúng, nghe được lắm. Tức đã chấp nhận đoạn văn trích trong NBCT chỉ là dạng văn tung hỏa mù tạo ra mớ xung đột tư tưởng cho người đọc, còn thực chất đó là những dàn bày các thiết tự 設字 Hán Nôm dùng để cài nén, ẩn giấu nhũng bí mật của câu chuyện chính trị ngày ấy xoay quanh cái chết của người sáng lập nước VNDCCH. Một nhà nước dân chủ theo chế độ cộng sản. Đó cũng là thời điểm chấm dứt mãi mãi thời kỳ phong kiến độc tài, chuyên chế của người Việt kể từ khi bắt đầu dựng quốc lập đô. Năm Ất Dậu 乙酉 1945. Vậy xin mời đọc tiếp tục. Ngoài cách này ra sẽ không còn có cách nào khác. Nói thế cũng có nghĩa ngoài chúng tôi thì không một ai có khả năng giải những bài văn, đoạn văn, bài thơ, câu thơ nặng nghiêng các thủ thuật thiết tự 設字 Hán Nôm dùng ám chỉ những bí mật lịch sử cổ kim của các danh sĩ các thời kỳ. Như trích đoạn này đây của tác giả Bảo Ninh. Chúng ta đọc lại câu văn: "Một hôm, Thịnh "con" ở tiểu đoàn một đã liều mò tới đấy và giữa tro tàn của ngôi làng cậu ta đã bắn chết một con vượn rất to, phải bốn người kéo ra mới khiêng nổi con thú về chỗ lán của đội trinh sát..." là cách dàn bày câu chữ tung hỏa mù để mở ra những thiết tự 設字 đặc trưng, nằm phía sau những ngôn từ "ví hỏi vì đâu đoan đích ấy, um tum cỏ nội với hoa ngàn" là phần cài nén những bí mật abc mà người ta muốn che đậy, thủ tiêu, qua mặt luật pháp hòng lật tẩy, chỉ ra ngày mất của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Cách sử dụng câu chữ đánh tráo xúc niệm lừa người đọc sa hầm lọt hố rất tài tình, khôn khéo của tác giả Bảo Ninh như sau. "Hôm 歆" của "một hôm" tiếng Nôm là chiều hôm, đầu hôm, hôm qua, sớm hôm. Chữ "một" còn lại là con số đơn vị tính, số 1, nói khác đi, đó là con số 1 của 5 canh. Thời xưa, một đêm chia ra 5 canh, canh 1 từ 7 giờ đến 9 giờ. Canh 2 từ 9-11 giờ. Canh 3 từ 11-1 giờ. Canh 4 từ 1-3 giờ. Canh 5 từ 3-5 giờ. Ở đây, hai chữ "một hôm" chỉ có nghĩa là đầu canh 1, nói rõ hơn, "một hôm" là đầu hôm, đầu của canh 1, chỉ cho giờ Dậu 酉.
Giải thích vừa rồi cho chúng ta biết Chủ tịch Hồ Chí Minh ngày ấy chết vào giờ Dậu 酉, từ 5 đến 7 giờ chiều, nói theo văn bản là "một hôm"-đầu hôm-đầu canh 1, đúng như ám chỉ của đoạn văn trích. Còn để xác định ngày chết thì phải đọc phần giải thích tiếp theo. Câu văn: "phải bốn người kéo ra mới khiêng nổi con thú" cần phải phân tích cụ thể, chi tiết như sau để thấy được những ẩn nghĩa thâm trầm chết người của nó. Khi đã hiểu được rồi thì bấy giờ mới thấy đó là nghệ thuật chơi chữ hết sức ma mị, điêu luyện, có một không hai của tác giả, người bao lâu nay bị xã hội cho là kẻ tà tâm, một mình tự diễn tự biến với những con chữ, đoạn văn, câu chuyện lạ lùng, kỳ dị đọc qua cũng chẳng ai biết chuyện gì là chuyện gì. Chỉ biết ba thứ ngôn ngữ, văn chương đó dùng để phản chiến của người có tư tưởng lội ngược dòng lịch sử. Song, nói trời gì nói thì NBCT và tác giả của nó vẫn cứ sờ sờ ra đấy. Đố ai làm gì được. Thử đặt trường hợp, nếu lúc đó không có ai hết, mà chỉ có một mình Thịnh "con", chắc Thịnh "con" sẽ không tự khiêng nổi con thú về lán đội trinh sát. Đó cũng chỉ là giả thiết, còn sự thật thì nó lại đi theo cái cách của nó. Nó không đi chung với ai hết. Có như thế mới gọi là chân lý được. Và đó chính là lý do, điều kiện buộc chúng ta phải đọc hiểu chữ "phải" của câu văn để xem có gì lạ, hay trong ấy. Từ đó chân lý mới được khai mở. Chữ "phải" sử dụng ở đây có hai cách để hiểu, trước là để nêu lên những giả thiết cho những trường hợp nào đó mà nếu không có những điều kiện nào đó tác động vào chắc sự việc sẽ rất khó để thực hiện, có khi nó sẽ đi theo một hướng khác. Ví dụ, phải chi lúc ấy mình đừng đi đến đó thì đâu xảy ra chuyện. Chữ phải nêu ở đây là một giả thiết, bày tỏ sự tiếc nuối. Còn thực tế thì chuyện đã rồi. Còn chữ "phải" của câu văn trích không phải là giả thiết, mà là một kết luận, nói đúng hơn đó là một kết từ hoặc tổ hợp kết từ dùng nói lên tình cảnh, sự việc đã bị tác động hoặc được thực hiện với sự trợ giúp của các điều kiện bên ngoài mà nếu không có là không được, không xong. Kết từ là từ dùng biểu thị quan hệ cú pháp, câu chữ để kết nối thành phần trong câu lại với nhau. Nhưng, thì, để, vì... là những kết từ. Xin cho ví dụ: "bây giờ xe đến kịp, thì mình sẽ đến bến phà lúc 5 giờ; còn đến trễ quá, chắc mình phải đi chuyến 9 giờ". Thì và phải là những kết từ dùng để nối, chốt sự việc cho hai tình huống đúng và trễ giờ. "Phải" của "phải bốn người kéo ra mới khiêng nổi con thú..." ở đây là một chủ ngữ dẫn đường, dẫn dắt sự việc.
Trùng trùng điệp điệp những thiết tự Hán Nôm trá hình những hư ngữ
Nhân vật Thịnh "con" trong câu chuyện của đoạn văn trích thật ra không hề có, mà đó chỉ là một hư ngữ, hoặc là một hóa ngữ, dùng để lấy ra chữ Thành. Cách lấy như sau. Thịnh 盛 (tiếng Hán) cũng đọc, có nghĩa là Thành. Thành 盛/誠 là tên khai sinh, giấy tờ của Bác Hồ thời còn thanh niên tuổi đôi mươi.
Hai chữ "hầu hết" của đoạn văn: "và lần lượt, kế tiếp nhau hầu hết trung đội đã bỏ mình..." là nghĩa giải thích của chữ tất 悉. Tất 悉 là cả thảy, tất thảy, toàn bộ, còn nói phớt qua, theo kiểu nhập đề lung khởi mù sương lãng đãng như của Bảo Ninh là "hầu như", gần như, gần hết.
Chữ "oán" của câu văn: "nhưng sự báo oán vẫn chẳng tránh được..." qua mấy lần mở âm, chuyển cách viết sẽ cho ra chữ Nguyễn. Thao tác, kỹ thuật ấy như sau. Nguyễn 阮-Oản 惋-Uyển 苑-Uẩn 怨-Oán. Oán 怨 là oán trách, oán giận, báo oán, báo thù. (Trang giải thích chữ Hán https://hvdic.thivien.net/ )
Những giải thích vừa rồi chúng ta đã có, đã lấy ra được ba chữ Nguyễn Tất Thành của nhân vật hư cấu tên là Thịnh "con".

Mở mật mã phải có chìa khóa
Chữ "và " của câu văn "mò tới đấy và giữa tro tàn của ngôi làng..." là một chìa khóa để mở ra các cánh cửa của hệ thống cài nén các thiết tự 設字 Hán Nôm để tìm ra sự thật câu chuyện. "Và 頗" tiếng Nôm là một liên từ dùng để nối các sự việc, biểu thị của sự quan hệ khắng khít, gần gũi của cú pháp-câu văn, như anh và tôi tuy hai mà một, nhà và đất sát bên... "Và 頗" ở đây được tác giả sử dụng mục đích để nối các từ lại với nhau để tìm ra ý nghĩa liên kết, thống nhất của nó cho câu chuyện. Mấy chữ: "và giữa tro tàn của ngôi làng" thì 5 chữ "tro tàn của ngôi làng" chúng ta đã biết nó chỉ là hư ngữ dụ cho chữ vi 囗 như đã nói ở trước xa. Sự thật thì 5 chữ ẩn dụ đó, đúng hơn là 2 chữ, còn có nghĩa như sau nữa. "Tro tàn" cũng có nghĩa là cháy hết không còn gì, nói ngắn gọn là không còn gì. Đó là nghĩa giải thích của chữ mão 冇-không có gì. Mão 冇 bên trái là chữ nhân 亻viết biến thể, bên phải là chữ quynh 冂; quynh 冂 là đất ở xa cõi nước, hoặc một địa giới nào đó ở đâu đó. Chữ mão 冇-không có gì đã được diễn ra câu văn như văn bản trích là: "giữa tro tàn của ngôi làng...", đồng thời đó cũng là chữ vi 囗 như đã nói. Riêng 11 chữ: "và giữa tro tàn của ngôi làng cậu ta đã bắn..." là một thiết tự 設字 Chuyển cú 轉句 được chuyển từ chữ mão 冇 mà ra. Nhìn chữ mão 冇, chúng ta hình dung đó là một người 亻-Thịnh "con"-đang quỳ, mình và súng kê trên một bờ đất, tảng đá, chuẩn bị bắn con vượn. Hình ảnh đó cho biết đó cũng là thiết tự Dụng hình 用形. Nói đúng hơn, đó là một thiết tự 設字 kép: Chuyển cú 轉句 và Dụng hình 用形. Viết ra được những câu văn ẩn dụ đa dạng, đa thanh, nhiều sắc màu như thế là tác giả đã khai, đã mở ra một cách viết sử dụng nhiều hệ thống ngôn ngữ, một tiền lệ chưa bao giờ có trong văn học Việt Nam và thế giới. Với cách sử dụng ngôn ngữ đa dạng, lớp chồng lớp như thế quả là tài chơi chữ quỷ khóc thần sầu, có một không hai vậy.

Đọc ngang đây, chúng ta đã biết, 5 chữ "tro tàn của ngôi làng" ẩn dụ cho hai chữ mão 冇 và vi 囗. Trước "tro tàn của ngôi làng", là 2 chữ "một hôm"-Thịnh "con" liều tới đấy..., chúng ta đã biết "một hôm" là giờ dậu 酉. Như thế, chữ "và 頗" như đã nói tiếng Nôm là một liên từ, dùng để nối các sự việc lại với nhau, ở đây là để nối các từ với các nghĩa độc lập lại với nhau thành thể thống nhất. Nó nằm ở giữa chữ dậu 酉 và chữ vi 囗, chữ mão 冇. Để làm rõ nghĩa hơn nữa cho hai chữ "tro tàn"-không còn gì-mão 冇, thì liên từ "và 頗" có âm đọc là vầy. Vầy 圍 đọc vi. Vi 為 đọc vị. Vị 味 đọc mùi. Mùi 瑁 đọc mạo. Mạo 帽 đọc mão. Ở ngang chữ mão này chuyển qua tiếng Hán (chuyển cú-chuyển ngữ 轉句), thì mão cho ra hai nghĩa: 1-Mão 卯 là giờ mão, chi mão. 2-Mão 冇 là không có gì.
Mão 冇 nghĩa không có gì chỉ là chữ giả tá 假借-vay mượn, chữ mão này đây mới là chữ nhắm đến, ám chỉ của tác giả. Mão 卯 là giờ mão hoặc mão 卯 là chi mão/mẹo thứ 4 trong 12 địa chi.
Và để bổ túc, làm sáng tỏ hơn nữa cho chữ mão 卯 thời gian, năm tháng, thì chữ "lông" của câu văn: "cạo sạch được bộ lông thì ôi giời đất ôi, con vật hiện nguyên hình..." là nghĩa giải thích của chữ mão 茆/mao 毛: sợi lông, gồm lông của các con vật và con người. "Cạo sạch được bộ lông" cũng có nghĩa sau khi phủi, quét sạch các hư ngữ um tùm cỏ nội hoa ngàn dàn bày bên ngoài khiến hai giới hắc bạch giang hồ võ lâm phải nổi điên xúm chửi mắng tùm lum điếc đầu điếc óc thì ngay đó sự thật câu chuyện hoặc ẩn ý của tác giả liền hiện bày ra ngay giữa thanh thiên bạch nhật. Không lâu đâu!
Đọc đến đây chúng ta đã biết gì chưa? Chưa sao?
Xin thưa, câu văn vừa giải thích đã cho chúng ta biết quá rõ cái chết của Chủ tịch Hồ Chí Minh xảy ra vào ngày nào. Đó là ngày 20 Kỷ Mão 己卯 âm lịch, ở trên là ngày 1 tháng 9 dương lịch. Xem ảnh lịch âm dương năm 1969 kèm theo bên dưới. Để xác định sự thật lần nữa, xin vui lòng đọc lại đoạn trước:
Câu văn: "Phải bốn người kéo ra mới khiêng nổi con thú..." ngoài nghĩa giải thích còn dùng để viết ra chữ kỷ. Kỷ 几/幾 là một tính từ, vừa dùng để hỏi, như ngày mấy, tháng mấy, năm mấy, và bao lâu, bao nhiêu? Vừa để chỉ (trả lời) nếu đó là hỏi về thời gian, về con số, về con người (phải bốn người...). Kỷ 几/幾 (chữ giả tá 假借-vay mượn) có âm đọc là cơ (trả lời về con số). Cơ 奇 là những con số lẻ, như 1, 3, 5, 7, 9. Kỷ 幾 còn được sử dụng-chữ đồng âm để ám chỉ, bóng gió cho can kỷ 己 thứ 6 trong thập can giáp, ất, bính, đinh. Nhập hai đoạn giải thích lại, chúng ta có hai chữ Kỷ Mão 己卯, là ngày 20 âm lịch. Trên là ngày 1 tháng 9 dương lịch của năm Kỷ Dậu 己酉 1969.
Nói thêm về hai chữ "Một hôm". "Hôm" như đã nói là đầu hôm, còn "một" ngoài nghĩa giải thích còn có nghĩa là ngày 1. "Một hôm" là đầu hôm (giờ dậu 酉) của ngày 1. Tác giả đã sử dụng nhiều cách viết, nhắc đi nhắc lại nhiều lần để bổ túc ý nghĩa qua lại trong từng con chữ, từng câu văn. Mục đích để người đọc dễ nhận diện ý đồ của mình. Chắc sợ người đọc vội vã đọc lướt qua chăng? Thật là người có tâm đại lượng, rộng lớn, chi li từng chút một, chút một, từng dấu chấm, dấu phẩy cũng vì sự nghiệp gieo rắc những con chữ để mở rộng tri thức hầu có điều kiện làm sáng tỏ lại những nghi án lịch sử đất nước, dân tộc. Văn quý nó có cái sinh khí là chỗ đó đó! Đáng quý, đáng trân trọng lắm thay!
Cái chết của lãnh tụ Hồ Chí Minh là vì bệnh tật hay vì lý do nào khác?
Ở trên có nói về chữ "phải" của câu văn "phải bốn người kéo ra mới khiêng nổi con thú về chỗ lán đội trinh sát...". Như đã nói, "phải" là một kết từ-kết luận, dùng để xác định sự việc đã xảy ra như thế. Ngoài hai cách hiểu về chữ "phải", thì "phải" còn là nghĩa giải thích của chữ hữu 右-bên phải. Rồi từ một chữ hữu 右 này sẽ lấy ra một chữ hữu khác. Nó thuộc thiết tự 設字 giả tá 假借. Hữu tiếng Hán có chữ viết như sau 有. Hữu 有 là có, có này có kia, hoặc hữu 有 là bạn bè. Như thế, ý câu văn đã tường minh, bày sự thật ra giữa thanh thiên bạch nhật cho mọi người thấy hiểu, rằng nếu không có nhóm bạn bè gồm 4 người thì chắc Thịnh "con" sẽ không thể một mình khiêng nổi con vượn về lán trại. Nhóm bạn bè hoặc nhóm 4 người được tác giả NBCT ám chỉ cho chữ băng 仌 nằm trong chữ quynh 冂 của chữ mão 冇. Cũng là hữu 有 sau khi chữ băng 仌 lót câu vị ngữ xuất hiện. Chữ mão 冇 bên trái là chữ nhân 亻viết biến thể dụ một người đứng tại một vùng đất ở xa cõi nước-quynh 冂-hoặc một địa giới nào đó. Ba chữ không có gì-冇 tương đương với nghĩa một người 亻-Thịnh "con"-đứng bơ vơ không có ai phụ giúp (phụ khiêng con vượn về lán trại). Nhưng khi chêm vị ngữ băng 仌 vào chữ quynh 冂 thì từ chữ mão 冇-không có gì, sẽ hóa ra chữ hữu. Hữu 有 là có, đối với không 冇, là có này có kia, là bạn bè, hoặc là đồng bọn, phe nhóm. Chữ băng 仌 tiếng Hán là nước đá, là băng tuyết, sự giá lạnh của mùa đông, nơi vùng băng tuyết phủ quanh năm. Băng 弸 cũng đọc là bằng. Bằng 朋 là bằng hữu, bạn bè, những thân hữu chơi thân với nhau, hoặc những người ở trong một tổ chức, đoàn thể nào đó. Băng theo mẫu tự latinh abc của từ điển tiếng Việt có nghĩa là phe nhóm, băng phái, đảng phái, chỉ số đông người tụ họp để làm những việc gì đó, có khi là những chuyện phạm pháp, bất chính, như tham nhũng, trộm cướp, giết người. Đó là nghĩa đích thực của băng hiểu theo ngôn ngữ thông thường của người Việt. Băng 崩 thêm nghĩa chỉ trường hợp cái chết của một vị vua, gọi là băng hà 崩遐. Với cách chơi chữ hết sức nghiệt ngã, điêu luyện thế này tác giả đã cho người đọc thấy ra sự thật rằng cái chết của Chủ tịch Hồ Chí Minh ngày ấy là do phe nhóm 4 người, nói theo văn bản trích là băng 4 người gây ra. Chốt lại. Băng 仌 (hai chữ nhân 亻亻chồng lên nhau, dụ số nhiều) ở đây có hai nghĩa: 1-Chỉ cho băng nhóm 4 người-"phải bốn người". 2-Chỉ hiện tượng, thời gian lúc một vị vua băng hà 崩遐.

Chủ tịch Hồ Chí Minh mất ngày 1 tháng 9, không phải ngày 2 như ghi chép, thông báo của chính quyền.
Tóm lại. Với những gì vừa giải thích qua đoạn văn trích trong Nỗi buồn chiến tranh của tác giả Bảo Ninh, chúng ta được biết, Chủ tịch Hồ Chí Minh ngày ấy mất ngày 1 tháng 9 dương lịch năm Kỷ Dậu 己酉 1969, ở dưới là ngày 20 Kỷ Mão 己卯 tháng Bảy Nhâm Thân 壬申 âm lịch, đúng vào giờ dậu 酉, từ 5 đến 7 giờ. Chớ không phải người mất vào ngày 2 tháng 9, lúc 9 giờ 47 phút, xa hơn là ngày 3, như thông tin báo, đài và các ghi chép của các dạng tài liệu do chính quyền, nhà nước Việt Nam cung cấp mà chúng ta đã đọc, đã được biết. Những thông tin, thông báo đó không đúng với sự thật đã từng xảy ra. Nhưng tại sao lại xảy ra trường hợp lạ lùng, nếu không muốn nói là cố tình che giấu sự thật của những người trong cuộc thời ấy? Chỉ nhờ qua trích đoạn Nỗi buồn chiến tranh mà chúng ta biết được sự thật? Để làm sáng tỏ chỗ này, rằng có phải Chủ tịch Hồ Chí Minh ngày ấy ra đi đúng vào ngày, giờ, tháng, năm như giải thích của chúng tôi hay không, thì chỉ những người có trách nhiệm, có đủ thẩm quyền về mặt luật pháp mới có thể bắt tay vào làm việc để tiến hành điều tra, xử lý vụ việc lại từ đầu. Ngoài ra sẽ không có bất cứ một ai có đủ thẩm quyền, chức năng để có thể bắt tay tiến hành, xử lý vụ việc này được. Để làm được việc cực kỳ khó khăn như thế, thì những người có trách nhiệm trước hết phải đến gặp tác giả NBCT nói chuyện, hỏi xem những giải thích của chúng tôi có đúng với những gì mình đã âm thầm cài nén, ẩn giấu trong từng câu chữ, từng đoạn văn mang tính ẩn dụ, hư cấu, đánh lừa xúc niệm ấy hay không. Đó là bước thứ nhất để xử lý câu chuyện.

Cũng cần phải biết tác giả NBCT là người của thời ấy, tuy ngày ấy tuổi vừa 19. Tác giả sinh năm 1952. Tuổi lứa ấy là tuổi của mộng mơ, ăn chưa no lo chưa tới, thì làm sao biết được những chuyện xảy ra trong các tổ chức, lĩnh vực chính trị vốn rất phức tạp và cũng rất bí mật, kín kẽ. Ngoài tầm tay với của mình. Song, người đọc cũng nên biết thân sinh của Bảo Ninh vốn là một giáo sư ngôn ngữ học nổi tiếng của thời ấy, nghe nói cụ còn là người đã gia nhập và sinh hoạt trong Đảng nữa. Như thế thì sự việc xảy ra quanh cái chết của Chủ tịch Hồ Chí Minh làm sao cụ không biết, đánh hơi được chút ít gì đó qua những thông tin rò rỉ từ trong nội bộ bay ra bên ngoài? Theo chúng tôi, những gì mà thân sinh của Bảo Ninh biết thế nào cụ cũng nói, kể lại cho con của mình nghe. Và thế nào cụ cũng dặn con bằng mọi cách phải thay bố viết lại những bí mật ấy để sau này sẽ có điều kiện làm sáng tỏ lại cái chết của lãnh tụ kháng chiến Hồ Chí Minh, người đã khai sáng ra nhà nước VNDCCH. Mở ra một kỷ nguyên mới cho đất nước, dân tộc. Nhưng con phải viết sao cho khéo, kẻo không nó sẽ mang lại nhiều rắc rối, hệ lụy cho con, cho cả cha nữa. Và tác giả NBCT đã hứa trước cha mình là sẽ cố gắng thực hiện những lời tâm huyết của cha bằng mọi giá, mọi cách. Thế là NBCT ra đời. Thế là bài giải thích những bí ẩn câu chuyện chính trị động trời dựa vào đoạn văn trích cũng từ đó mới có điều kiện ra đời.

Bước kế tiếp, sau bước một, những người có trách nhiệm, có đầy đủ thẩm quyền về mặt luật pháp có dám thực hiện khâu quan trọng nhất của câu chuyện: mời hoặc gặp trực tiếp các đối tượng gây án để làm việc hay không nếu các đối tượng từng tham gia vào cái chết của Chủ tịch Hồ Chí Minh ngày ấy cho đến nay cũng vẫn còn? Dù chỉ còn một vài người.
Lời cuối
Bài viết này chỉ nói về ngày, tháng, giờ, phút của cái chết Chủ tịch Hồ Chí Minh. Còn ai là kẻ gây ra cái chết ấy thì phải bài viết sau. Bởi trong đoạn văn trích tác giả có nói rất cụ thể, rõ ràng là: "phải bốn người kéo ra mới khiêng nổi con thú về chỗ lán của đội trinh sát...". Chữ "bốn" của "bốn người" chính là 4 đối tượng đã gây ra cái chết cho Chủ tịch Hồ Chí Minh. Chớ không phải chỉ một người. Tức vụ án này có một tổ chức hẳn hoi, không phải tay ngang bên ngoài nhảy vô làm chuyện khó hơn tìm đường lên trời này được. Nói đúng hơn, rõ hơn, đây là những đối tượng rất có quyền lực, thân thế; và quyền lực, thân thế ấy nếu cần nó sẽ thâu tóm cũng như sẽ điều khiển, khống chế những con người khác phải răm rắp nghe làm theo ý mình, không được vọng động. Có như thế thì mới có thể dễ dàng ém nhẹm, bưng bít, che đậy sự việc được. Và đó chính là điều kiện, cơ sở vững chắc để người ta phải ghi nhận, và tất cả các văn bản hành chính được nhất loạt thông qua rằng Chủ tịch Hồ Chí Minh ra đi vào ngày 3, sau đính chính là ngày 2, của tháng 9 năm Kỷ Dậu 己酉 1969, vào lúc 9 giờ 47 phút.
Cũng cần nói rõ thêm là chúng tôi sẽ không phải chịu trách nhiệm gì về bài viết của mình, bởi chúng tôi chỉ là người dịch giải những ẩn giấu, cài nén trong văn bản trích từ NBCT. Nếu phải chịu trách nhiệm, thì đó là tác giả NBCT. Cho nên chúng tôi mới nói, để bắt tay tiến hành, xử lý câu chuyện nếu người đọc, ở đây là những người có trách nhiệm, cảm thấy thích thú, hấp dẫn bởi sự lôi cuốn của câu chuyện qua phần giải thích của chúng tôi, thì những người ấy phải tìm đến nói chuyện, làm việc với tác giả để nắm bắt rành mạch đầu đuôi chi tiết, cụ thể sự việc. Bởi tác giả được xem là người trong cuộc. Có hai lý do để nói như thế: 1-Tác giả là người của thời ấy, sinh ra tại địa phương xảy ra vụ việc. 2-Là con của một người sinh hoạt trong Đảng, sống và làm việc tại nơi xảy ra vụ việc. Riêng chúng tôi sẽ không giải quyết, cũng không thể trả lời những câu hỏi ấy được, bởi chúng tôi chỉ là người có khả năng giải thích những văn bản ám chỉ, bóng gió, cài nén những bí mật lịch sử cổ kim bằng các dạng thiết tự 設字 Hán Nôm. Như những bài giải Kiều, giải các bài thơ của các danh sĩ thời phong kiến nói về cái chết cũng như dấu tích, lăng mộ vua Quang Trung hiện vẫn còn ở đâu đó hay đã bị vua Gia Long và quan quân quật phá hết rồi từ xưa từ 10 năm nay vậy. Do đó, chúng tôi sẽ không phải chịu trách nhiệm gì về bài viết, cùng những giải thích chỉ ra ai là thủ phạm gây ra cái chết của Chủ tịch Hồ Chí Minh vào ngày 20 Kỷ Mão 己卯, tháng Bảy âm lịch Nhâm Thân 壬申 năm Kỷ Dậu 己酉 1969 của bài viết sau. Cũng cần nói rõ là nhờ chúng tôi mà cái chết cứ tưởng đâu là bình thường của Chủ tịch Hồ Chí Minh từ nửa thế kỷ nay mới được làm cho sáng tỏ. Còn nếu chúng tôi không giải thích, nhờ qua mạng xã hội tình cờ đọc được trích đoạn NBCT của tác giả Bảo Ninh, thì chắc chắn, ngay cả tác giả NBCT cũng sẽ không bao giờ viết bài giải thích như chúng tôi. Và như thế, câu chuyện, vụ án giết người dùng quyền lực ém nhẹm thông tin, đánh lạc hướng dư luận của nhóm đối tượng mà nói như văn bản trích là "phải bốn người...", tức băng nhóm 4 người, 4 nhân vật, ngang đây trở về sau chúng tôi gọi đó là "bộ tứ huyền thoại", sẽ trôi vào quên lãng mãi mãi.
Chờ đọc bài tiếp theo (cũng dựa vào đoạn văn trích, không tự ý thêm bớt). Sẽ cho biết mặt mũi, tên tuổi "bộ tứ huyền thoại" đó gồm những ai, quê quán sinh ở đâu, có chức quyền gì, từng làm những việc gì trong thời ấy, sinh và mất năm tháng nào, vvv... Tất nhiên phần này cũng lục lấy trên mạng về tiểu sử của "bộ tứ huyền thoại" uy danh phủ trùm, lấn lướt giới chính trường suốt nhiều thập niên. Nói thêm là bài sau chỉ được viết chỉ khi nào có ai đó đọc bài này xong, thấy có lý, chuyện rất có thể xảy ra, nhưng để xác nhận sự đúng sai, có không của nó, tức những giải thích của chúng tôi, thì cần phải có sự xác nhận của tác giả NBCT. Lúc ấy cho in bài này xuống, mang đến tác giả nói chuyện. Nếu tác giả xác nhận giải thích rất đúng, lúc đó chúng tôi mới viết bài tiếp theo. Còn nếu tác giả phất tay, nói không, đó chỉ là sự hoang tưởng của người giải thích. Sự việc nếu xảy ra như thế thì bài sau sẽ không có. Vì có viết cũng chẳng trúng trật vào đâu. Bởi cha đẻ văn bản trích đã bác bỏ sự việc. Và như thế, giải thích của chúng tôi coi như chỉ là những câu chữ rặt mùi hoang tưởng. Một phần cũng do hay đọc các truyện trinh thám, điều tra phá án mà ra nữa.
Viết thêm đoạn. Nếu chúng ta chấp nhận những ẩn nghĩa của đoạn văn trích trong tác phẩm Nỗi buồn chiến tranh đã được làm sáng tỏ qua phần giải thích là rất đúng, rất hay, không sai ly hào của văn bản hư cấu văn học lồng trong các dạng thiết tự 設字 Hán Nôm. Song, với chấp nhận đó nó sẽ đẩy chúng ta đi đến chỗ nghịch lý của câu chuyện. Đó là ngày, tháng, năm mất của Chủ tịch Hồ Chí Minh mà bất cứ ai cũng biết là ngày, tháng, năm nào rồi sau năm 1975. Thì hà cớ gì tác giả Bảo Ninh lại phải khổ công ngồi viết lại sự việc bằng lối thiết tự 設字 Hán Nôm với các dạng hư cấu rối nghĩa, đan xen thực thực hư hư, gây nhiễu loạn cho người đọc, cả người chưa đọc như thế để làm gì? Nếu có những nghi ngờ, thắc mắc như thế khởi lên, thì đây, xin mời các bạn bình tĩnh đọc đoạn tiếp theo. Cụm từ: "Một thời gian sau, Thịnh "con" bị giết...". Các bạn lưu ý giùm cho chữ "giết". Như đã nói, "Thịnh 盛" cũng đọc là Thành 誠/成, là tên thời thanh niên của Bác Hồ, vậy, nếu Bác Hồ chết vì bệnh như ghi chép, cho biết của chính quyền miền Bắc thời ấy mà mãi đến sau giải phóng 75, tức 20 năm sau, năm Kỷ Tỵ 己巳 1989, sự việc mới được công bố, thì tại sao tác giả Nỗi buồn chiến tranh lại viết là "bị giết"-"Thịnh con bị giết" như thế? Tại sao không ghi, viết là bị bệnh chết?
Như thế, theo chúng tôi, chỉ có ngày ấy Bác Hồ, chính xác là ngày 1 tháng 9 năm Kỷ Dậu 己酉 1969, đã bị một ai đó hay một thế lực nào đó xuống tay hại chết mà thôi. Còn giết bằng cách nào, có khi bằng độc dược, hoặc bằng sợi dây siết cổ hay lấy tay siết cổ thì cũng chỉ có người trong tổ chức ấy biết. Người bên ngoài rất khó mà biết vụ việc bí ẩn, động trời ấy được. Ngoại trừ một người duy nhất biết rõ đầu đuôi, ngọn ngành sự việc. Người đó là ai? Xin thưa, đó là tác giả Nỗi buồn chiến tranh!
Cũng nên biết thời điểm xảy ra vụ án tác giả Nỗi buồn chiến tranh cũng vẫn còn ở tại nhà, chưa lên đường nhập ngũ tòng chinh vào Nam chiến đấu. Sau khi qua chính kim khẩu của cha mình kể lại từng chi tiết một rằng Bác Hồ hôm ấy đã bị "ai" hay "thế lực to lớn" nào ra tay hạ độc thủ vào trước ngày diễn ra lễ Quốc khánh 2/9 tại sân quảng trường Ba Đình. Từ đó tác giả đã thai nghén, chôn kín tâm tư câu chuyện bí mật của chính trường. Chỉ đến khi làm xong bổn phận của một công dân, từ giã chiến trường, ném một thời đạn bom khói lửa chết chóc đau thương lại sau lưng, trở về quê hương tác giả mới có điều kiện ngồi viết lại câu chuyện chiến trường đan xen câu chuyện chính trường mà mình đã biết, đã thai nghén ngày trước lồng trong những hư ngữ ẩn dụ rối rắm thực hư hư thực khiến hai giới hắc bạch giang hồ võ lâm điên đầu điếc óc nổi dóa chửi mắng lung tung, miệt mài...

-
{{comment2.CustomerName}}
{{comment2.CreateDate | jsDate | date:'dd/MM/yyyy HH:mm'}}
{{Lang.reply}} | {{Lang.like}} ({{comment2.LikeYes}})
{{Lang.read_more}} {{Lang.comments}}