Chào mừng bạn đến với website Bốn Niệm Xứ

VÉN MÀN BÍ MẬT: HỒ THƠM LÀ AI?

VÉN MÀN BÍ MẬT: HỒ THƠM LÀ AI?

Theo ghi chép của nhiều dạng sách vở, tài liệu lịch sử cổ kim, Nguyễn Huệ thuở nhỏ có tên là Hồ Thơm. Thông tin này có thể đúng, bởi phụ thân của Nguyễn Huệ gốc là họ Hồ, gọi đầy đủ là Hồ Phi Phúc. Tộc Hồ gốc xuất xứ từ vùng quê Hưng Nguyên Nghệ An. Khoảng 400 năm trước (thế kỷ 17-năm 1655) tổ tiên bốn đời của Nguyễn Huệ bị quân Nguyễn bắt đày biệt xứ vào Đàng Trong, vùng đại mông (nơi mặt trời lặn), gọi là Tây Sơn thượng đạo, ngày nay là An Khê. Nguyễn Du có nói đến tích này trong truyện, câu 2172: "Họ 𝗞𝘆̀ tên Hải vốn người 𝗯𝗶𝗲̣̂𝘁 𝗺𝗼̂𝗻𝗴...". Không phải Việt Đông. Cũng không phải Từ Hải. Chỉ cần sai nội một chữ thì tất cả sự thật liền bị thủ tiêu, biến mất hoàn toàn. Không còn ai biết gì nữa. Từ đó tất cả chỉ còn biết nghĩ và nói theo câu chữ nhập nhằng, mơ hồ của ba thứ chữ nghĩa vô nghĩa, rỗng tuếch ấy. Cho đến đời của ông Hồ Phi Phúc thì cơ nghiệp gia tộc được ông quyết định di dời xuống vùng Tây Sơn hạ đạo, bên bờ sông Côn, thuộc vùng đất Kiên Mỹ, huyện Tuy Viễn (Tây Sơn). Tại đây, ông Hồ Phi Phúc gặp bà Nguyễn Thị Đồng, hai người nên duyên vợ chồng. Hai ông bà hạ sanh ba anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ và Nguyễn Lữ. Cũng còn mấy người chị nữa nhưng ít được lịch sử nhắc đến.

bìa sách
Văn học Việt Nam ngày nay cần phải xác định lại truyện Kiều là bộ sử Tây Sơn như phát hiện của chúng tôi. 

Hồ Thơm, như thế là cái tên thuở thiếu thời của Nguyễn Huệ, ở tại quê nhà Kiên Mỹ. Thời gian sau, khi cuộc cách mạng Tây Sơn nổ ra từ năm Tân Mão 1771, Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ lúc ấy là những tướng lĩnh tài ba của cuộc khởi nghĩa, dưới quyền của Tây Sơn vương Nguyễn Nhạc. Đến khi đánh chiếm được Thuận Hóa-Phú Xuân vào năm Bính Ngọ 1786, liền theo đó, một bước ngoặc mới được mở ra cho cuộc khởi nghĩa, qua một vài viện dẫn, móc nối với sự nhiệt tình của tướng tha hương Nguyễn Hữu 𝗖𝗵𝗶́𝗻𝗵 (không phải Chỉnh), Nguyễn Huệ chớp thời cơ. Đây là thế mạnh, sở trường của bộ óc thiên tài hãn hữu quân sự khi đứng trước thời thế và chiến cuộc. Và cuộc kéo quân chinh phục, tấn công Bắc Hà lần nhất đã thành công vang dội. Tiếp đó, trước khi kéo đội hùng binh cứu viện Tây Sơn Bắc tiến ra đánh giặc Thanh tại năm cửa Thăng Long thành vào hai năm chiến dịch Mậu Thân 1788 vắt qua năm ngày đầu xuân năm Kỷ Dậu 1789, Nguyễn Huệ lập đàn tế trời bước lên kể tội giặc và kẻ rước giặc vào tàn phá đất nước tại núi Bân Sơn. Ngài xưng đế hiệu là Quang Trung năm thứ nhất.

 

Sau khi đã đuổi giặc cướp nước ra khỏi đất nước, trong các công văn, thư từ trao đổi thông tin chính sự qua lại giữa Phú Xuân và Yên Kinh với vua Thanh Cao Tông Càn Long nhà Thanh vào năm Canh Tuất 1790, nội dung chính là để hóa giải mối oán thù chất ngất của bên thua cuộc sau cuộc chiến tàn khốc đã để lại quá nhiều hệ lụy, thương vong không riêng bên nào, vua Quang Trung ký và xưng tên là Nguyễn Quang Bình (Sách Đại Việt quốc thư). Như vậy, vua Quang Trung tính cho đến thời điểm ấy Ngài có bốn tên gọi, gồm 1-Nguyễn Huệ, 2-Quang Trung, 3-Nguyễn Quang Bình, và cái tên thường gọi thuở thiếu thời là Hồ Thơm. Bài viết này chúng tôi muốn tìm hiểu tên gọi Hồ Thơm của người anh hùng áo vải đất Tây Sơn huyền thoại vốn có thật hay không, hay đây chỉ là những phỏng đoán, suy diễn của các sách và các thông tin lịch sử ngoài lề, gọi là truyền miệng dân gian. Để làm công việc vô cùng khó khăn này, trong khi sách vở và thông tin, tài liệu ghi chép của nhiều dạng sử cũ mới thật ra cũng rất khó để đặt vào đó niềm tin vững chắc về cái tên Hồ Thơm. Có thể gọi đó là một nghi án lịch sử chăng? Thôi thì chỉ còn cách duy nhất là dựa, là lục trong truyện Kiều của Nguyễn Du may ra có được chút thông tin nào chăng.

bìa sách

Theo trình tự câu chuyện, đó là lúc truyện bắt đầu xuất hiện nhân vật "Mã 𝗾𝘂𝗮̉𝗻 𝗯𝗶𝗻𝗵", không phải "Mã giám sinh", ở đoạn đầu, là đoạn gia đình Thúy Kiều đi chúc thọ "ngoại 𝘃𝘂̛𝗼̛𝗻𝗴", không phải "ngoại hương", mới về: hai câu 625-626. Đây là hai câu mang tính cài nén mật mã của tác giả 3254 câu lục bát Kiều dùng ám chỉ bí ẩn lịch sử Tây Sơn: tên tuổi của Nguyễn Huệ. Những người đam mê, thích Kiều chắc không còn ai xa lạ gì hai câu đầy chất tung hứng này đây, chính thi sĩ Bùi Giáng cũng đã chơi ngẳng lấy hai câu dạt dào thi hứng ấy diễn ra hai câu đượm chất thiền vị điểm vào bản lai diện mục của mình độc đáo hết sức một cách chưa từng có tiền lệ trong giới thiền học là:

 

Hỏi tên rằng biển xanh dâu,
Hỏi quê rằng mộng ban đầu đã xa...

 

Hỏi tên rằng: "Mã 𝗾𝘂𝗮̉𝗻 𝗯𝗶𝗻𝗵,
Hỏi quê 𝗼̛̉ huyện Lâm Thanh cũng gần...

 

Những chữ in đậm là những chỉnh sửa, phục hồi câu chữ, trả lại văn bản gốc cho tác giả, cho Kiều của chúng tôi.

 

Chữ "𝗾𝘂𝗮̉𝗻 管" câu 625 tiếng Nôm cũng đọc là quyển 捲>quyền 鬈>quăn 肱>quăng 光>𝗾𝘂𝗮𝗻𝗴 光.
"Binh 兵/碰" cũng đọc là bính 偋>𝗯𝗶̀𝗻𝗵 平.
"Rằng" (nghĩa giải thích) của chữ vân 云/員>viên 园>ngoan 忨>uyển 惋>oản 朊>𝗻𝗴𝘂𝘆𝗲̂̃𝗻 阮.

 

Ghép lại, qua mấy lần mở âm, chuyển cách đọc, cách viết của thiết tự Chuyển cú 轉句: chuyển ngữ, tức chuyển từ chữ, từ này sang chữ, từ khác để lấy ra nghĩa thiết thực, cụ thể của sự việc, câu chuyện. Chuyển cú 轉句 nghĩa chính là chuyển một câu văn, câu thơ sang một từ, chữ nào đó, ngược lại là chuyển một từ, một chữ sang một câu văn, câu thơ. Chúng ta có ba chữ 𝗡𝗴𝘂𝘆𝗲̂̃𝗻 𝗤𝘂𝗮𝗻𝗴 𝗕𝗶̀𝗻𝗵 阮光平, một tên gọi khác của vua Quang Trung thường được Ngài sử dụng trong các công văn, thư từ, đàm phán ngoại giao giữa Phú Xuân và Yên Kinh với vua Thanh Cao Tông Càn Long và các đại thần vào năm Canh Tuất 1790 như đã nói.

 

Tiếp theo, chữ "Mã 馬" còn lại của ba chữ "Mã 𝗾𝘂𝗮̉𝗻 𝗯𝗶𝗻𝗵 馬管兵" có hai nghĩa như sau. Trước hết, "Mã 馬" là ngựa, cũng đọc là ngọ, ngọ 午 ở đây là năm Bính Ngọ 丙午 1786, năm Bắc Bình vương Nguyễn Huệ tấn công Bắc Hà lần nhất như đã nói. "Bính 偋/丙" là chữ lấy từ chữ "𝗯𝗶𝗻𝗵 兵" ra như đã giải thích. "Mã 馬" nghĩa còn lại là phò mã 駙馬, rể của vua. Ghi chép của lịch sử cho chúng ta biết khá rõ, sau trận tiến công bất ngờ khi đã làm chủ Bắc Hà, Nguyễn Huệ tay vịn đốc kiếm đảo mắt thả từng bước tiến vào triều đình, ngồi trên chiếc ghế soạn sẵn hầu trà tiếp chuyện vua Lê. Bao quanh là lính cận vệ Tây Sơn tay kiếm sẵn sàng cho mọi tình huống bất ngờ có thể xảy ra. Vua Lê và triều thần lúc ấy mặt cắt không còn hột máu. Sau đó vua và triều thần đã thống nhất, đi tới giải pháp, gã Công chúa Lê Ngọc 𝗡𝗴𝗮̂𝗻, không phải Hân, cho Nguyễn Huệ để kết tình giao hảo giữa hai nước Đàng Trong, Đàng Ngoài. Dư luận thời ấy và các sách sử cũ mới đều cho đám cưới của Nguyễn Huệ và Ngọc 𝗡𝗴𝗮̂𝗻 là cuộc tình duyên (mưu tính) chính trị. Nghe nói Tây Sơn vương Nguyễn Nhạc khi nghe tin đã liền giục quân mã cấp tốc trực chỉ ngày đêm ra Bắc Hà để xem ông em Long Nhương tướng quân của mình làm gì ngoài ấy mà chưa chịu hạ lệnh thu quân. Như thế, cho đến thời điểm ấy, giữa năm Bính Ngọ 1786, Nguyễn Huệ được xem là con rể của vua Lê Hiển Tông. Cho dù sau đó vua Lê và triều thần dưới sự dẫn dắt, to nhỏ, xầm xì phía sau tấm màn nhung đóng mở bất chợt của tướng tha hương Nguyễn Hữu 𝗖𝗵𝗶́𝗻𝗵 cũng đã toa rập, quyết định chơi nước cờ sinh tử, táo bạo chưa từng có tiền lệ trong lịch sử. Tráo người. Thế vào vị trí Công chúa Lê Ngọc 𝗡𝗴𝗮̂𝗻 bằng một người con gái khác. Đó chính là người đẹp nghiêng nước nghiêng thành Thúy Kiều, có tên đầy đủ là Hoàng Thị Thu Mai, con của Việp Quận công Hoàng Ngũ Phúc, vốn là người trong mộng của thư sinh Kim Trọng Nguyễn Du. Việc thay người tráo sự đổi kịch bản này của vua Lê và triều thần thì khi ấy Nguyễn Huệ không hề biết. Chỉ đến khi đoàn xa giá về đến Phú Xuân-Thuận Hóa Nguyễn Huệ mới được biết đầu đuôi, ngọn nguồn cớ sự câu chuyện rằng vợ mới cưới của mình là ai. Chuyện ấy chúng tôi nói nhiều rồi, đâu cần phải nói ra ở đây thêm lòng vòng, kéo dài lê thê.

chân dung bìa sách

Chúng ta trở lại với chuyện chữ nghĩa. "Lâm 臨/綝" của "Lâm Thanh 臨清" cũng đọc, có âm đọc là sâm 姺>tiên 姍>san 山-𝘀𝗼̛𝗻 山. (Tiên 唌) đọc duyên 埏>thiên 羴>chiên 亶>thiện 善>thiến 茜>𝘁𝗮̂𝘆 西. Từ chữ "Lâm 臨" của "Lâm Thanh 臨清" chúng ta lấy ra được địa danh 𝗧𝗮̂𝘆 𝗦𝗼̛𝗻 西山, vốn là quê hương của các anh em Tây Sơn tam kiệt. Đây cũng dạng thiết tự Chuyển cú 轉句.

 

Chữ "𝗼̛̉ 於" câu 626 tiếng Nôm cũng là thiết tự Chuyển cú 轉句, đọc là ô 圬>hũ 壼>hồ 胡. Hồ 胡 tiếng Nôm hoặc Hán là họ Hồ 胡, họ gốc của Nguyễn Huệ ở đất Tây Sơn thượng đạo và Tây Sơn hạ đạo sau khi di chuyển từ Hưng Nguyên Nghệ An vào Đàng Trong từ 400 năm trước. Trở lại với chữ "𝗯𝗶𝗻𝗵 兵/碰" của tên gọi "Mã 𝗾𝘂𝗮̉𝗻 𝗯𝗶𝗻𝗵 馬管兵". "𝗕𝗶𝗻𝗵 兵/碰" tiếng Hán cũng đọc là bính 並>tinh 胜/蜻>𝘁𝗵𝗮𝗻𝗵 清. 𝗧𝗵𝗮𝗻𝗵 清 ở đây theo chúng tôi chính là tên của Nguyễn Huệ thuở thiếu thời, khi còn ở quê nhà Tây Sơn, đất Kiên Mỹ, bên bờ sông Côn. Chớ không phải Ngài tên Thơm như các dạng sử xưa nay ghi chép hoặc chuyện ngoài lề, truyền miệng dân gian. Ghép lại, tên thường gọi của Nguyễn Huệ là Hồ 𝗧𝗵𝗮𝗻𝗵 胡清, không phải Hồ Thơm 胡𦹳 như hầu hết các văn bản sử học chính thống, ngoài lề ghi chép, truyền tụng.

chân dung
Hồ Chí Minh và Quang Trung vốn là một người. Nếu không phải thì thuyết luân hồi trong Phật giáo cũng nên dẹp.

Hai chữ "Lâm Thanh 臨清" câu 626 có ẩn ý như sau. "Lâm 臨" là chữ nói tắt, bóng gió của Thiền Lâm Tự 禅林寺 và "Lâm Tri 臨淄/知", nơi có Cung điện Đan Dương của Bắc Bình vương Nguyễn Huệ mà tiền thân của nó là Phủ Dương Xuân hay Cung điện mùa đông của các chúa Nguyễn mà khi đánh chiếm Thuận Hóa vào tháng 5 năm Bính Ngọ 1786 Nguyễn Huệ đã cho tu sửa thành Cung điện Đan Dương, dùng làm nơi ở cho Ngài và gia đình. "Tri 知" của "Lâm Tri 臨淄/知" nói cho đủ là "tri phủ 知府", là chức chủ của một phủ, một huyện đường, nơi làm việc của chính quyền các chúa Nguyễn trước khi Thuận Hóa bị quân Trịnh, sau là Nguyễn Huệ, đánh chiếm. Chữ "Thanh 清" còn lại của "Lâm Thanh 臨清" được tác giả 3254 câu lục bát Kiều Thanh Tâm Tài Nhân Kim Trọng Nguyễn Du ám chỉ cho giặc Thanh mà trong hai năm chiến dịch Mậu Thân 戉申 1788-Kỷ Dậu 己酉 1789 vua Quang Trung và quân đội Tây Sơn đã đánh cho tan tác, không còn manh giáp, xác giặc cướp nước nằm phơi đầy ra như rơm rạ tại năm cửa Thăng Long thành. Sau chiến cuộc, xác giặc cướp nước được người dân Thăng Long, quân đội Tây Sơn xếp chất thành 12 đống, cao như gò, núi. Gọi là gò Đống Đa.

 

Chữ "𝗯𝗶𝗻𝗵 兵" của "Mã 𝗾𝘂𝗮̉𝗻 𝗯𝗶𝗻𝗵 馬管兵" qua 4-5 lần mở âm (𝗯𝗶𝗻𝗵 兵/碰>bính 並>tinh 胜>thăng 塍>thành 城) đọc là thăng 塍, là thành 城. Thăng 昇 là Thăng Long. Thành 城 là thành quách, chỉ năm cửa Thăng Long thành 昇龍城.

 

Từ Lâm Thanh 臨清, tức khu vực chùa Thiền Lâm 禅林, Lâm Tri 臨淄/知, đến Thăng Long 昇龍, nơi vùi 30 vạn (không phải 29 vạn như ghi chép lịch sử) xác giặc cướp nước Thanh triều tầm 700km trở lại. Đi bộ khoảng 30 ngày. Một tháng. "Lâm Tri vừa một tháng tròn tới nơi.../Trích Kiều, câu 920". Đó là sự thật, khoảng cách của địa lý hai nơi cho nên Nguyễn Du mới dùng hai chữ "cũng gần" để vừa lưu ý người đọc cũng vừa ám chỉ sự việc: "Hỏi quê 𝗼̛̉ huyện Lâm Thanh cũng gần".

 

Với những gì vừa giải thích, dựa vào truyện Kiều của Thanh Tâm Tài Nhân Kim Trọng Nguyễn Du, chúng ta đã được biết, Nguyễn Huệ thuở nhỏ có tên là Hồ 𝗧𝗵𝗮𝗻𝗵 胡清, không phải Hồ thơm 胡𦹳, như hầu hết các văn bản sử học chính thống, ngoài lề ghi chép, cho biết. Ai nói còn sai, chưa đủ lòng tin, chớ Nguyễn Du là người trong cuộc, đúng hơn là trong "hội đoạn trường" qua sự trần thuật, kể lể đầu đuôi nguồn cơn tâm sự từ chính kim khẩu Bắc cung Hoàng hậu Thuý Kiều Thu Mai nói, viết lại thì không sai chút mảy may. Liệu chúng ta có dám chấp nhận đây là sự thật hay không, tức có dám buông bỏ, ném xuống tư tưởng, định kiến, chấp thủ muôn người như một rằng truyện Kiều gốc vốn bên Tàu, do Thanh Tâm Tài Nhân người bên ấy hư cấu, sáng tác bằng chữ Hán, thể chương hồi, đặt tên là Đoạn trường tân thanh (đúng ra là Hoạn trường tâm thanh-tình sử chốn quan trường) mà thi hào Nguyễn Du trong một lần đi sứ bằng cách nào đó đã săn nhặt, lấy được bỏ tráp mang về Phú Xuân ngồi mò mẫm, cặm cụi dịch ra 3254 câu lục bát chữ Nôm nhằm những lúc trà dư tửu hậu, chè chén say sưa mang ra ngâm đọc, tung hứng cùng đám tao nhân mặc khách cho thỏa tình tri kỷ, bầu bạn văn chương thi phú một thuở.

tượng chân dung
Thi hào Nguyễn Du sinh năm Bính Thân 1776, không phải năm Ất Dậu 1765 như ghi chép lịch sử.

Bổ túc cho chữ "Long 龍" của ba chữ Thăng Long thành 昇龍城. Chữ "cũng 共" câu 626 tiếng Nôm có âm đọc là cùng 窮>còng 躬>cung 工>trong 冲>xông 𨃸>lồng 𢲣>𝗹𝗼𝗻𝗴 龍.

 

Viết thêm đoạn. Câu lục 625 là câu chủ ngữ (câu bát là vị ngữ) dẫn đường với hai chữ "Hỏi tên...". Đó là lý do cơ bản, thiết thực để chúng tôi dựa vào chữ "𝗯𝗶𝗻𝗵 兵/碰" để lấy ra chữ bình 平-𝗡𝗴𝘂𝘆𝗲̂̃𝗻 𝗤𝘂𝗮𝗻𝗴 𝗕𝗶̀𝗻𝗵 阮光平, của ba chữ "Mã 𝗾𝘂𝗮̉𝗻 𝗯𝗶𝗻𝗵 馬管兵" vốn là một mã hóa của tước hiệu do vua Lê Hiển Tông sắc phong, ban tặng cho Bắc Bình vương Nguyễn Huệ khi đã vào triều đình ngồi bàn chuyện chính sự với mình vào năm Bính Ngọ 丙午 1786 là: "Nguyên súy Phù chính dực vũ Uy quốc công". Tước này coi về binh lính, quân đội triều Lê. Cho nên Nguyễn Du mới có cơ sở để mã hóa tên tuổi, mặt mũi Bắc Bình vương Nguyễn Huệ thành nhân vật Mã 𝗾𝘂𝗮̉𝗻 𝗯𝗶𝗻𝗵 馬管兵 ở đoạn đầu truyện như thế được. Tiếp theo là chữ thăng, chữ thành của Thăng Long thành 昇龍城. Sau hết là chữ thanh của Hồ 𝗧𝗵𝗮𝗻𝗵 胡清, tên gọi thuở thiếu thời của Nguyễn Huệ. Tất cả đều từ chữ "𝗯𝗶𝗻𝗵 兵/碰" của "Mã 𝗾𝘂𝗮̉𝗻 𝗯𝗶𝗻𝗵 馬管兵". Thuộc câu chủ ngữ 625 dẫn đường, mở lối như đã nói.

 

Với những gì được giải thích, dám nói Nguyễn Du là một tay tổ, một bậc thầy trong văn học với cách sử dụng ngôn ngữ, câu chữ biệt lệ chưa từng có trong lịch sử. Xưa nay thiết nghĩ người ta xúm ca tụng Nguyễn Du là ca tụng bằng cách nào, nhắm vào đâu nếu chưa bao giờ nắm bắt những thủ thuật cài nén, ẩn giấu bí mật lịch sử hết sức tài tình, điêu luyện của cụ trong từng câu, chữ như chúng tôi đã giải thích trên nhiều bài viết. Không riêng bài này.

 

{{Lang.related_posts}}

{{Lang.comments}} Facebook

Lên đầu trang